Tại sao lấy máu ở tĩnh mạch

QUY TRÌNH LẤY MÁU TĨNH MẠCH VÀO TÚI DẺO

QUY TRÌNH LẤY MÁU TĨNH MẠCH VÀO TÚI DẺO

I. NGUYÊN LÝ

Lấy máu tĩnh mạch vào túi dẻo vô trùng có chứa sẵn chất đông và chất nuôi dưỡng hồng cầu.

II. CHỈ ĐỊNH

Người hiến máu tình nguyện

III. CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Không có chống chỉ định

IV. CHUẨN BỊ

1. Nhân sự

-Nhân viên khoa Huyết học- Truyền máu

- Phối hợp: Điều dưỡng khoa lâm sàng đã được tập huấn về quy trình thu gom máu.

2. Phương tiện, hóa chất

- Cân và máy lắc túi máu

- Máy hàn dây máu

- Túi lấy máu 

-Bông, gạc, băng ngón Urgo, cồn 70°

-Dây ga rô.

-Khay quả đậu

- Kìm vuốt dây máu

- Hộp đựng vật sắc nhọn

- Giường lấy máu

3. Người hiến máu:

- Người hiến máu được: Khám lâm sàng; được tư vấn rõ về mục đích, ý nghĩa của việc hiến máu; tư vấn về những bệnh lây qua đường truyền máu để người hiến máu tự sàng lọc nếu mình không có nguy cơ lây nhiễm mới tham gia hiến máu.

- Người hiến máu được: Xét nghiệm 5 bệnh lây truyền qua đường máu, bao gồm: HIV, HBsAg, HCV, Giang mai, Sốt rét; kết quả âm tính mới đủ tiêu chuẩn hiến máu. Trường hợp lấy máu tại các buổi hiến máu tình nguyện: Xét nghiệm sàng lọc HBsAg trước khi hiến máu.

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1. Các bước kỹ thuật:

- Hướng dẫn người hiến máu tư thế nằm trên giường

- Chọn tĩnh mạch thích hợp, thường lấy máu ở nếp gấp khuỷu tay [hệ thống tĩnh mạch], đặt gối ở dưới khuỷu tay [dưới vị trí định lấy máu].

- Buộc gây ga rô cách chỗ lấy máu 5cm về phía trên.

- Sát khuẩn da thật kỹ và để khô.

- Ghi họ tên người cho máu, ngày lấy, hạn dùng vào nhãn túi máu, số túi máu

- Ðưa kim vào tĩnh mạch, khi thấy máu chảy ra dây dẫn vào túi máu àlắc nhẹ túi máu đều đặn bằng tay hoặc bằng máy.

- Khi đủ số lượng máu yêu cầu, tháo dây ga rô, rút kim ra, ấn nhẹ gạc vô khuẩn nơi lấy máu, hướng dẫn bệnh nhân gấp tay lại giữ gạc khoảng 15 phút, bỏ gạc và dán băng Urgo.

- Đậy nắp kim, dùng kìm vuốt dây máu, hàn dây máu, chuyển túi máu về kho bảo quản.

- Thu dọn và bảo quản dụng cụ:

+ Tắt công tắc điện máy lắc, máy hàn

+ Kim dùng một lần bỏ vào thùng đựng vật sắc nhọn.

+ Bông gạc bỏ vào thùng đựng rác y tế.

2. Ghi hồ sơ:

- Lưu: Họ tên tuổi người hiến máu, ngày giờ lấy máu, số lượng máu, các kết quả xét nghiệm vào sổ đăng ký cho máu, sổ trữ máu các nhóm phù hợp. Ghi mã số trên dây túi máu, lấy 1 đoạn dây lưu trữ bảo quản ở tủ - 35°C.

- Viết phiếu bồi dưỡng cho người hiến máu.

3. Người hiến máu: Trong quá trình lấy máu, kỹ thuật viên hướng dẫn người hiến máu cách chăm sóc và theo dõi sức khỏe, đồng thời vận động họ sẽ tham gia hiến máu nhắc lại khi đủ điều kiện.

VI. NHẬN ĐỊNH KẾT QUẢ

Túi máu không bị đông, số lượng máu đủ theo quy định

V. NHỮNG SAI SÓT VÀ XỬ TRÍ

- Người bệnh có thể bị choáng, mệt do sợ hãi quá mức cần được nghỉ ngơi.

- Túi máu bị đông dây do thao tác kỹ thuật lấy ven chưa chính xác.

I. NGUYÊN TẮC

– Đối chiếu người bệnh [mẫu máu]: Lượng mẫu đủ, đúng chỉ định chuyên môn, phiếu xét nghiệm đủ thông tin.

– Bảo đảm an toàn khi thực hiện kỹ thuật

II. CHỈ ĐỊNH

Bệnh nhân làm xét nghiệm Huyết học – Truyền máu: Tổng phân tích máu, đông máu cơ bản, HIV, HBsAg, HCV.

III. CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Không có chống chỉ định.

IV. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện

Người trực tại phòng nhận mẫu.

2. Người bệnh

Lấy máu lúc đói, càng xa bữa ăn càng tốt. Trong cấp cứu thì lấy bất kỳ lúc nào.

3. Phương tiện, hóa chất

– Cồn 70°, bông tiêm.

– Bơm tiêm loại 5ml

– Dây garo, găng tay, gối kê tay

– Pank, lam kính, bút dạ kính.

– Tube chứa mẫu máu

– Bình màu vàng chứa vật sắc nhọn

– 2 thùng rác:

+ 1 thùng bên trong có túi nylon màu vàng chứa rác y tế .

+ 1 thùng bên trong có túi nylon màu trắng chứa rác tái chế.

Chú ý:

+ Tất cả các dụng cụ trên phải sắp xếp, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ.

+ Phải để trong thùng có nắp đậy để tránh bụi.

+ Phải để những nơi dễ thấy, dễ tìm để thuận tiện cho các thao tác kỹ thuật.

4. Phiếu xét nghiệm

Giấy chỉ định xét nghiệm ghi đầy đủ thông tin về người bệnh: họ tên, năm sinh, giường bệnh, khoa phòng, chẩn đoán.

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

– Bước 1: Kỹ thuật viên tiếp xúc, thăm hỏi người bệnh, giới thiệu tên, chức danh của mình.

– Bước 2: Kiểm tra đối chiếu với y lệnh.

– Bước 3: Để người bệnh ở tư thế thích hợp.

– Bước 4: Ghi tên, năm sinh, số giường, khoa, phòng của người bệnh vào ống nghiệm.

– Bước 5: Rửa tay sau đó mang găng.

– Bước 6: Chọn vị trí lấy máu thích hợp, buộc dây garo trên chỗ lấy máu từ 3-5 cm.

– Bước 7: Sát khuẩn vị trí lấy máu bằng cồn 70°, đợi khô.

– Bước 8: Chọc kim qua da vào tĩnh mạch, kéo nhẹ pít tông cho máu tự chảy vào xilanh cho đến khi đủ số lượng máu làm xét nghiệm.

– Bước 9: Tháo dây garo, đặt bông vô khuẩn lên trên vị trí chọc kim để cầm máu, rút kim nhanh.

– Bước 10: Tháo kim ra khỏi bơm tiêm, bơm máu từ từ vào thành ống nghiệm để tránh vỡ hồng cầu [nếu lấy máu có chất chống đông thì lắc trộn nhẹ nhàng trong 30 giây để máu khỏi bị đông].

– Băng vết chích máu bằng băng cá nhân, hẹn người bệnh thời gian trả kết quả.

– Thu dọn dụng cụ, tháo găng, rửa tay.

VI. NHẬN ĐỊNH KẾT QUẢ

– Tuyp máu không bị đông, số lượng máu đủ.

VII. NHỮNG SAI SÓT VÀ XỬ TRÍ

– Máu bị đông, vỡ hồng cầu do thao tác kỹ thuật chưa chính xác.

– Người bệnh có thể bị choáng, mệt do sợ hãi quá mức cần được nghỉ ngơi.

1. Trang thiết bị

Một điều quan trọng là bạn phải chuẩn bị một khay hoặc một không gian có đầy đủ dụng cụ cần thiết cho việc lấy máu. Các dụng cụ cần thiết bao gồm: dây garo, ống nghiệm, phiếu chỉ định, cồn 70 độ hoặc cồn iod, bông gạc, miếng dán cầm máu, giá cắm ống nghiệm, hộp dựng giá ống nghiệm, hộp đựng rác. Tất cả đều phải sẵn có và sử dụng được ngay.

Việc lựa chọn loại kim với đường kính phù hợp sẽ giúp việc lấy máu dễ dàng hơn đồng thời cũng làm giảm sự khó chịu cho bệnh nhân. Kim đường kính 19-gauge [19G] hoặc 21G là thích hợp cho người lớn. Trẻ em nên dùng kim 23G [19G=1.1mm; 21G=0.8mm; 23G=0.6mm]. Có thể lấy máu bằng kim có cánh [kim bướm]. Một đầu của kim này nối với bơm tiêm hoặc ống chân không để lấy máu.

2. Ống nghiệm đựng máu

Các ống nghiệm để lấy máu toàn phần có sẵn trên thị trường với các chất chống đông như K2EDTA, K3EDTA hoặc Na2EDTA và có đánh dấu sẵn lượng máu cần cho vào [2ml, 3ml…]. Một số loại ống khác thì có thể chứa Natri citrat, Hepain, ACD. Ngoài ra còn có các ống nghiệm không có chất chống đông khi cần lấy huyết thanh. Hiện nay không có sự thỏa thuận chung về màu sắc cho từng loại ống nghiệm với từng chất chống đông khác nhau. Vì vậy các nhân viên lấy mẫu cần quan sát kỹ và làm quen với màu sắc loại ống mà đơn vị mình đang dùng.

Với hệ thống lấy mẫu bằng chân không thì có một ống nghiệm chân không bằng thủy tinh hoặc nhựa, một kim và một bộ giữ kim. Ưu điểm của hệ thống lấy máu chân không này là nút bằng cao su, các kim hút mẫu trên các hệ thống máy có thể đâm xuyên qua mà không cần mở nắp. Hệ thống này cũng rất tốt khi phải lấy nhiều ống với nhiều loại chống đông khác nhau. Lượng chân không trong ống sẽ kiểm soát lấy đủ lượng máu vào trong ống theo đúng tỉ lệ chống đông đã quy định.

3. Quy trình lấy máu tĩnh mạch

– Các nhân viên thực hiện quy trình này phải được đào tạo đầy đủ. Phải kiểm tra và đối chiếu thông tin của bệnh nhân với thông tin trên phiếu chỉ định. Tất cả các thiết bị, dụng cụ, hóa chất cần thiết cho việc lấy máu phải được chuẩn bị đầy đủ.

– Nên buộc dây garo ngay phía trên vị trí lấy máu. Máu được lấy tốt nhất ở tĩnh mạch nếp nằn khuỷu tay hoặc các tĩnh mạch nhìn rõ khác của cẳng tay bằng một ống chân không hoặc bơm tiêm. Vị trí lấy máu cần được sát khuẩn bằng cồn 70 độ và để khô tự nhiên trước khi lấy máu. Dây garo nên được tháo ngay khi máu chảy vào bơm tiêm hoặc ống chân không. Sự chậm trễn trong việc tháo garo có thể làm thay đổi thành phần dịch do một sự ứ đọng máu xảy ra. Khi rút máu vào bơm tiêm nên rút một cách chậm chạp, không rút nhanh hơn tốc độ chảy của tĩnh mạch. Việc chống đông máu phải được thực hiện bằng cách đảo ngược ống nghiệm nhiêu lần. Nguy cơ tan máu của mẫu có thể được giảm thiểu bằng cách giảm đến mức tối thiểu thời gian buộc garo, rút máu cẩn thận, sử dụng kim có kích thước thích hợp, bơm máu từ từ vào ống nghiệm và lắc trộn máu nhẹ nhàng với chất chống đông. Lưu ý nếu lấy máu quá chậm hoặc trộn mẫu không kỹ có thể làm đông máu, chất lượng của ống máu không đạt. Sau khi lấy mẫu, nắp ống nghiệm cần phải được đóng chặt để tránh nguy cơ dò rỉ.

– Nếu việc lấy máu không thành công, việc quan trọng là hết sức giữ bình tĩnh, trao đổi với bệnh nhân và xem xét các nguyên nhân dẫn đến việc lấy máu không thành công. Những nguyên nhân gồm kỹ thuật kém [chọc kim xuyên qua mạch hoặc lấy mạch kém], sự hình thành sẹo, khối tụ máu.

– Sau khi lấy máu xong, nhẹ nhàng rút kim ra đồng thời ấn một miếng bông tiệt trùng lên vùng đam kim. Ấn nhẹ nhàng miếng bông trong một phút cho đến khi máu không chảy ra. Cuối cùng dán 1 miếng băng dính nhỏ [ago] phủ vết thương.

– Việc lấy máu qua kim luồn đặt mạch là một nguyên nhân gây lỗi quan trọng. Nguyên nhân là do có Heparin trong đường ống. Vì vậy cần loại bỏ Heparin và 5ml máu đầu tiên phải bỏ đi trước khi lấy máu làm xét nghiệm. Nếu đang truyền tĩnh mạch thì không nên lấy máu trên cánh tay đó. Tuy nhiên nếu điều này là cần thiết thì lấy phía dưới vị trí truyền [ví dụ đang truyền ở khuỷu tay thì lấy máu ở mu bàn tay].

4. Quy trình sau lấy máu

Diều quan trọng là mọi ống bệnh phẩm phải dược dán nhãn với đầy đủ thông tin của bệnh nhân . Các thông tin tối thiểu cần phải có bao gồm: Họ tên, khoa phòng, ngày tháng năm sinh, ngày và giờ lấy mẫu. Nhiều đơn vị đã sử dụng nhận dạng bệnh nhân tự động bằng cách sử dụng mã vạch được in trên cổ tay hoặc mắt cá chân đeo trên mỗi bệnh nhân. Nếu loại hệ thống này được sử dụng cả nhãn mẫu và phiếu yêu cầu phải được mã vạch với các dữ liệu giống nhau. Ống mẫu nên được đặt trong các hộp đựng ống nghiệm, tách riếng với phiếu chỉ định để tránh hiện tượng lây nhiễm. Mẫu nên được giữ ổn định đến khi vận chuyển đến phòng xét nghiệm.

5. Một số nguyên nhân gây ảnh hưởng kết quả do quá trình lấy mẫu

5.1. Trước quá trình lấy máu.

– Đi tiểu trong vòng 30 phút; Ăn hoặc uống trong vòng 2h.

– Hút thuốc

– Vận động cơ thể [kể cả đi bộ nhanh] trong vòng 20 phút.

– Stress

– Thuốc hoặc chế độ ăn kiêng trong vòng 8h.

5.2. Trong quá trình lấy máu.

– Các lần lấy khác nhau [sai số theo ngày].

– Tư thấy lấy mẫu: nằm, đứng hoặc ngồi.

– Sự cô đặc máu do thời gian garo kéo dài.

– Áp lực quá lớn khi rút máu vào bơm tiêm.

– Loại ống không đúng

– Máu mao mạch so với máu tĩnh mạch.

5.3. Sau quá trình lấy máu.

– Chất chống đông không đủ hoặc thừa.

– Không trộn máu với chất chống đông.

– Lỗi trong nhận dạng thông tin bệnh nhân và/hoặc mẫu.

– Điều kiện bảo quản mẫu

– Chậm trễ trong việc chuyển mẫu đến phòng xét nghiệm.

Nguồn tài liệu dịch và tham khảo: Dacie and Lewis, Practical Haematology, Twelfth edition 2017

Hiện chúng tôi có cung cấp các vật tư tiêu hao [kim lấy máu, ống chân không] cho hệ thống lấy máu chân không. Chi phí phù hợp cho giá xét nghiệm tại VN. Nếu bạn có nhu cầu triển khai hệ thống lấy máu chân không có thể liên hệ với chúng tôi để được cung cấp vật tư và hỗ trợ kỹ thuật.

Công ty TNHH Chất lượng xét nghiệm Y học

Mr. Quang/ 0981.109.635 /

Mr. Tuyến/ 0978.336.115 /0904.466.629 /

Video liên quan

Chủ Đề